SÁT NHÂN BÓP CỔ THÀNH BOSTON – HUNG THỦ CÒN SỐNG?

Sát nhân bóp cổ thành Boston là cái tên mà người ta đặt cho hung thủ của hàng loạt vụ án hiếp dâm và giết người xảy ra vào năm 1962 ở Boston, Mỹ.

“Sát nhân bóp cổ” và “chữ ký” đặc biệt

Vụ án xảy ra lúc 19 giờ ngày 14/6/1962, khi chàng thanh niên Juris đến nhà mẹ đẻ là bà Anna S. Slesers để đưa mẹ tới dự một buổi lễ ở nhà thờ. Juris gõ cửa vài lần nhưng không thấy mẹ trả lời còn cửa thì khóa trái. Anh cảm thấy lo lắng và phá cửa vào nhà tìm mẹ. Juris bàng hoàng khi tìm thấy mẹ nằm chết trong bồn tắm với đôi tất của bà quấn quanh cổ và thắt thành hình chiếc nơ trước ngực. Nghĩ rằng mẹ tự vẫn, Juris gọi điện cho chị gái và thông báo cho cảnh sát biết. Tuy nhiên, khi tới hiện trường, cảnh sát nhận ngay ra rằng đây không phải là một vụ tự sát mà có vẻ là một vụ tấn công nhiều hơn. Không có đồ đạc nào bị mất, chỉ có điều mọi thứ trong nhà bị bới tung lên, kể cả thùng rác. Khám nghiệm pháp y cho thấy bà bị hãm hiếp rồi mới bị siết cổ. Bà Anna là một phụ nữ đứng tuổi đáng kính. Trước khi chết, hầu như bà không gặp gỡ với bất kỳ người đàn ông nào khác, ngoài con trai mình.

Nạn nhân đầu tiên

Cùng ngày hôm đó, cảnh sát phát hiện thi thể của bà Helen Blake, 65 tuổi, tại căn hộ của bà cách đó khoảng 24km về phía Bắc của Boston. Pháp y xác định bà bị giết vào khoảng 8-10 giờ sáng. Bà Helen Blake cũng bị xiết cổ bằng tất nylon sau khi bị hãm hiếp. Trước cổ, tên giết người cũng dùng áo lót của bà để thắt một chiếc nơ.

Trong khi cảnh sát cảnh báo mọi phụ nữ trong thành phố phải khóa cửa và cảnh giác với những kẻ lạ mặt thì các vụ giết người liên tiếp xảy ra thì liên tiếp có thêm 3 người nữa bị giết. Sau đó kẻ giết người “nghỉ ngơi” trong vòng 3 tháng. 3 tháng yên tĩnh đó giúp các nhân viên cảnh sát Boston có thời gian để điều tra tất cả những kẻ tình nghi. Nhưng những kẻ tình nghi mà họ thu thập được đều có chứng cứ ngoại phạm cả.

Ngày 5/12/1962, “sát nhân bóp cổ” lại tiếp tục ra tay. Nạn nhân lần này là Sophie Clark, một sinh viên khoa công nghệ y học của Viện nghiên cứu Carnegie. Sophie Clark là một người Mỹ gốc Phi, 21 tuổi, xinh đẹp. Xác của cô được hai người bạn cùng phòng phát hiện tại căn hộ số 315 đại lộ Huntington, trong khu Back Bay. Thi thể Sophie nằm trong phòng khách, cổ bị thít chặt bởi 3 chiếc tất được thắt hình chiếc nơ. Cô cũng bị hãm hiếp trước khi bị sát hại. Không có dấu hiệu cho thấy tên tội phạm đã đột nhập. Sophie vốn là người rất cẩn thận, luôn cảnh giác  trước người lạ. Phòng của cô luôn lắp tới hai ổ khóa và cô luôn nhận diện người gõ cửa trước khi mở cửa. Có lẽ cô đã bị kẻ giết người thuyết phục mở cửa cho vào.

Hàng loạt các vụ giết người liên tiếp xảy ra

Các vụ án mạng vẫn tiếp tục xảy ra. Theo thống kê của cảnh sát thì từ 6/1962 tới 1/1964, 13 phụ nữ ở Boston bị giết với cùng một đặc điểm là bị xâm hại tình dục trước khi bị bóp cổ đến chết và hung thủ thắt một chiếc nơ bằng tất hoặc áo lót của nạn nhân trước cổ.

Lời thú tội bất ngờ

Trong khi số vụ giết người cứ ngày một tăng, cảnh sát vẫn tiếp tục điều tra các vụ giết người để tìm thêm chứng cứ, nhưng không phát hiện được điều gì đáng kể. Cảnh sát trưởng Boston, Edmund Mc Namara rất lo lắng khi ngoài kia, trong thành phố của ông, một kẻ hiếp dâm và giết người tàn bạo đang lang thang và chuẩn bị gây ra những vụ án tiếp theo. Ông quyết định không cho phép các nhân viên của mình được nghỉ phép. Ông cho thành lập một đội điều tra đặc biệt gồm các thám tử thuộc lực lượng cảnh sát Boston và cảnh sát liên bang và Tiến sĩ Donald Kenefick, cố vấn về y học – tâm lý. Ngoài ra họ còn mời Peter Hurkos, một chuyên gia về tâm linh nổi tiếng người Hà Lan, tham gia đội điều tra.

Việc đầu tiên của đội điều tra là rà soát lại toàn bộ thông tin của những kẻ từng có tiền án tấn công phụ nữ hay bị tâm thần. Mc Namara yêu cầu FBI tổ chức cuộc họp giúp hơn 50 thám tử của ông hiểu hơn về các loại tội phạm tình dục. Viên thống đốc bang còn trao thưởng 10.000 USD cho ai cung cấp thông tin giá trị.

Đội điều tra sau khi nghiên cứu 37.000 trang tài liệu về vụ án đã phác họa chân dung kẻ giết người là một đàn ông ít nhất 30 tuổi, gọn gàng, độc thân hoặc ly hôn, có vẻ ngoài không giống người điên khùng bởi hắn đã thuyết phục được những người phụ nữ cẩn thận nhất cho vào nhà.

Đầu tháng 11/1964, tức gần 3 năm sau khi thụ án 18 tháng tù vì lừa đảo, gã thợ may ngông cuồng De Salvo bị bắt trở lại và bị cáo buộc vì gây ra một vụ án đặc biệt xảy ra vào ngày 27/10. Ngày 27/10, De Salvo đột nhập một căn hộ, khống chế nữ chủ nhà bằng một con dao và trói bà vào giường. Sau đó, hắn cởi quần áo và vuốt ve người phụ nữ đó nhưng rồi cuối cùng lại xin lỗi nạn nhân và trốn khỏi khu nhà sau khi yêu cầu nạn nhân phải im lặng trong 10 phút. Vì bị bịt mặt không nhìn thấy hung thủ nhưng bà miêu tả rất rõ giọng nói của hắn khiến cảnh sát nghĩ ngay tới tên thợ may De Salvo.

Từ việc bị bắt vì nghi ngờ gây ra vụ đột nhập một căn hộ DeS alvo lại dễ dàng thú tội đã cưỡng hiếp và giết 11 phụ nữ khiến cảnh sát đặt nhiều nghi vấn. Cảnh sát đặt ra ba khả năng: Khả năng thứ nhất, De Salvo có tội thật và đang day dứt vì những gì hắn gây ra. Khả năng thứ hai, hắn bị điên. Khả năng thứ ba là hắn có động cơ kiếm tiền. Để kiểm tra xem hắn có bị điên hay không, cảnh sát đã gửi De Salvo tới Bệnh viện Bridewater State để kiểm tra sức khỏe. Còn về khả năng hắn nhận tội để kiếm tiền thì cảnh sát cũng tiến hành điều tra. Cảnh sát đã tìm hiểu và biết được rằng thời gian ở tù vì tội lừa đảo trước đó 3 năm, De Salvo đã làm quen và trở thành bạn thân của George Nassar, một kẻ có chỉ số IQ cao và có khả năng đặc biệt trong việc điều khiển người khác. Trong tù, đã có lần người ta nghe được De Salvo và George Nassar nói chuyện về những vụ án hiếp dâm và giết người. Rất có khả năng George Nassar đã gây ra những vụ cưỡng hiếp, giết người và “thuê” De Salvo nhận tội. Điều này rất phù hợp với suy đoán của các thám tử rằng các nạn nhân đã bị kẻ thủ ác thuyết phục cho vào nhà vì George Nassar nổi tiếng thông minh và có khả năng đặc biệt trong việc điều khiển người khác.

De Salvo không những khẳng định chính mình giết 11 người mà còn kể chi tiết từng vụ mà chỉ có người có mặt tại hiện trường khi xảy ra vụ án mới biết được như thiết kế của từng căn hộ, vị trí đồ đạc nhà, ga trải giường màu gì và áo nạn nhân mặc lúc đó thế nào… Khi được hỏi sao lại chọn những phụ nữ lớn tuổi để cưỡng hiếp thì hắn trả lời không phải vì họ hấp dẫn mà bởi họ là phụ nữ, và thế là đã đủ với hắn. Những lời khai quá chi tiết dần dần khiến cảnh sát không còn nghi ngờ hắn bị điên hay bị ai dụ dỗ nhận tội thay nữa. Cuối cùng, sau rất nhiều tranh cãi quyết liệt, các thành viên của ban điều tra kết luận Albert De Salvo chính là sát thủ họ cần tìm bấy lâu nay.

Nhưng…

Các nhân chứng và nhà báo Susan Kelly, người theo sát các vụ án đã ra sức bảo vệ DeSalvo. Theo nhà báo Susan Kelly thì không có một chứng cứ thực tế nào chứng tỏ DeSalvo có liên quan tới các vụ giết người. Thậm chí, tất cả các nhân chứng đều khẳng định người họ gặp tại hiện trường vụ án không phải là DeSalvo mặc dù DeSalvo có một đặc điểm nhận dạng rất rõ là cái mũi to.

Trong vụ án Joann Graff bị giết, hàng xóm nạn nhân và ông chủ quán rượu gần nhà Joann Graff đều khẳng định người lạ mà họ gặp trước và sau vụ án mạng xảy ra không phải là DeSalvo. Một chi tiết nữa là cảnh sát thu được tại hiện trường vụ sát hại Mary Sullivan có ba điếu thuốc lá hút dở và một mẫu tàn trong bồn cầu của căn hộ nơi Sophie Clark bị giết trong khi cả 2 nạn nhân và DeSalvo đều không hút thuốc lá.

Nhân chứng Marcella Lulka, người sống cùng khu nhà với Sophie Clark, đã gặp một người đàn ông tự xưng là “Thompson” định lừa để vào nhà của cô. Cuộc gặp này chỉ diễn ra vài phút trước khi Sophie Clark bị giết. Cô đã miêu tả người đàn ông đó có khuôn mặt hình trái xoan, mái tóc nâu và cao khoảng 1,8m. Tất cả những đặc điểm đó đều không hề giống Albert DeSalvo.

Khi DeSalvo bắt đầu thú nhận về các vụ giết người, cảnh sát đã cho triệu tập Marcella Lulka và Gertrude Gruen để họ có thể bí mật nhìn mặt hắn trong tù. Gruen là người phụ nữ duy nhất sống sót trong lần gặp mặt sát thủ bóp cổ. Cả hai đều không thể khẳng định được DeSalvo có phải là kẻ họ gặp hay không. Tuy nhiên, khi Gruen được cho nhìn mặt George Nassar, tên tù đã kết bạn với DeSalvo mấy năm trước, thì Gruen bất ngờ nhận ra nét giống với dáng điệu của kẻ tấn công cô. Lulka thì nói rằng chính hắn là kẻ mà cô gặp tại tòa nhà của mình.

Ai là kẻ giết người thật sự?

Vậy thì một vấn đề ra với cơ quan điều tra là nếu DeSalvo không phải là kẻ giết người thì tại sao hắn lại có thể nhớ chính xác tất cả các chi tiết tại hiện trường các vụ án vậy với một trí tuệ bình thường như thế? Tuy nhiên, trong quá trình kiểm tra, bác sĩ Robey cho biết DeSalvo có trí nhớ rất tốt. Ông đã cho DeSalvo làm một bài test như sau: DeSalvo được dắt đi qua 8 người xếp thành hàng và đến tận ngày hôm sau hắn vẫn có thể xếp lại chính xác thứ tự những người đó mặc dù 8 người đó đã được thay đổi trang phục khác. Cuối cùng, các chuyên gia tham gia cuộc điều tra thống nhất đưa ra kết luận rằng những vụ giết người không thể chỉ do một hung thủ gây ra bởi những dấu vết để lại hiện trường là không đồng nhất, và nạn nhân của vụ án thuộc những nhóm khác nhau. Đặc biệt là vụ án Mary Brown bị hãm hiếp, bóp cổ và bị đánh đến chết tại Lawrence vào đầu tháng 3/1963. Lời thú nhận của DeSalvo về vụ án này chỉ chung chung và rất nhiều chi tiết không chính xác. Có thể hắn đã được George Nassar kể cho nghe vụ này khi còn ở trong tù với nhau, bởi Mary Brown sống ở cùng khu phố với người đàn ông bị Nassar bắn chết.

Ngày 10/1/1967, DeSalvo bị xét xử với tội danh giết người. Bản thân anh ta cũng thú nhận đã gây ra 11 trong số 13 cái chết của những người phụ nữ bị hãm hiếp. Luật sư Bailey nói có thể cứu thân chủ của mình vì ông cho rằng DeSalvo bị điên bởi không ai lại cứ khăng khăng nhận mình có tội giết người hàng loạt trong khi chỉ bị bắt về hành vi.

Tại phiên tòa, luật sư Bailey chỉ muốn chứng minh vấn đề quan trọng nhất là bị cáo bị thần kinh. Ông mời tới tòa những chuyên gia có khả năng chứng tỏ sự không bình thường của Albert DeSalvo. Công tố viên thì phản đối DeSalvo bị thần kinh vì hắn đã khôn ngoan thuyết phục được các nạn nhân cho vào nhà. Sau nhiều giờ xét xử căng thẳng, bồi thẩm đoàn tuyên bố DeSalvo có tội và tuyên phạt bị cáo án chung thân.

Bí ẩn về kẻ giết người

DeSalvo đã viết một bài thơ trong đó nói rằng sự thật về cái chết của các nạn nhân sẽ không bao giờ được biết. Tháng 11/1973, Albert DeSalvo bị đâm chết trong nhà tù Walpole. Đêm trước hôm bị giết, hắn tỏ ra rất sợ hãi và liên hệ với Tiến sĩ Ames Robey, yêu cầu ông gặp mình ngay lập tức. Robey hứa sẽ gặp DeSalvo vào sáng hôm sau, nhưng đêm hôm đó, anh ta bị kẻ nào đó đâm chết.

Robey kể lại: “DeSalvo muốn gặp tôi cùng một phóng viên báo chí. Anh ta nói sẽ kể hết cho tôi nghe sát thủ bóp cổ ở Boston là ai và tất cả những gì liên quan. Trước đó một tuần, anh ta còn yêu cầu cho mình vào xà lim an toàn dưới sự bảo vệ đặc biệt. Điều gì đó đã xảy ra trong nhà tù. Tôi cho rằng anh ta muốn tiết lộ ngay tất cả, trước khi quá muộn. Những người canh ngục không thích anh ta… Đêm hôm xảy ra án mạng, cửa tất cả các phòng giam đều mở…”. Các điều tra viên tin rằng cái chết này liên quan tới hoạt động mua bán ma túy trong tù của DeSalvo. Có 3 phạm nhân bị đưa ra xử về vụ này, nhưng phiên tòa bị hoãn hai lần.

Đến giờ người ta vẫn nghi ngờ kẻ sát nhân bóp cổ vẫn chưa chết và đang nằm trong tù hay lang thang đâu đó. Và đến nay, người ta vẫn tự hỏi liệu DeSalvo là thủ phạm hay Nassar hay là một kẻ bí mật nào đó khác?

@hosotuyetmatx