12 THÍ NGHIỆM VÔ NHÂN ĐẠO NHẤT MÀ CHÍNH PHỦ MỸ THỰC HIỆN TRÊN CON NGƯỜI

Chính phủ Hoa Kỳ đã bị phát hiện thực hiện một số lượng các cuộc thí nghiệm vô nhân đạo và tàn bạo trên người mà không được sự đồng ý của họ … và thường nằm ngoài kiến thức của họ. Đây là mười ba trường hợp xấu xa nhất, đáng sợ và đáng lo ngại nhất về những thí nghiệm trên con người do Hoa Kỳ tiến hành.

Dù bạn không phải là một người tin vào thuyết âm mưu, nhưng khi bạn đọc những câu chuyện thử nghiệm của chính phủ trong danh sách này, chắc chắn rằng bạn sẽ tin. Chính phủ Hoa Kỳ có thực sự lây nhiễm bệnh giang mai sang người khác và không nói cho họ biết không? Đúng vậy, đó là điều họ đã làm. Các cơ quan chính phủ khác có thử nghiệm vũ khí hạt nhân, dẫn tới sự phóng xạ đối với nhiều hòn đảo trên Thái Bình Dương không? Có đấy. Và các quan chức hàng đầu của Hoa Kỳ đã bỏ ngoài tai các nghiên cứu của những nhà khoa học suy đồi đang tra tấn các đối tượng nghiên cứu của họ một cách rõ ràng?

Đọc danh sách dưới đây để tìm hiểu.

Thí nghiệm kiểm soát trí não, lam dụng trẻ em – Dự án MKULTRA, tiểu dự án 68.

Đây là những cơn ác mộng thực sự. Dự án MKULTRA của CIA ủy thác cho Tiến sĩ Donald Ewen Cameron tiểu dự án 68, các thí nghiệm AKA liên quan đến các chất làm thay đổi trí tuệ. Toàn bộ mục tiêu của dự án là xem xét các phương pháp gây ảnh hưởng và kiểm soát tâm trí và thu thập thông tin từ những tâm trí có biểu hiện chống lại.

Để đạt được điều này, bác sĩ đã cho bệnh nhân nhập viện Allen Memorial ở Montréal (chủ yếu do các vấn đề như chứng trầm cảm bi-cực và rối loạn lo âu) và tiến hành “liệu pháp” cho họ. Việc điều trị mà họ nhận được là thay đổi cuộc sống cùng với di chứng của liệu pháp

Từ năm 1957 đến năm 1964, Cameron được trả lương để điều trị bằng điện trị liệu với mức điện gấp 30-40 lần năng lượng cho phép. Ông sẽ đưa bệnh nhân vào trạng thái hôn mê do thuốc mê gây ra trong nhiều tháng và kết thúc thì nghiệm bằng cách phát lại các băng ghi âm đơn giản hoặc tiếng ồn lặp đi lặp lại.

Các nạn nhân đã quên mất cách nói chuyện, quên gia đình và bị mất trí nhớ nghiêm trọng. Tất cả những điều này được thực hiện đối với công dân Canada vì CIA không muốn gây nguy hiểm cho người Mỹ.

Để đảm bảo dự án vẫn được tài trợ, Cameron đã thực hiện các thí nghiệm của mình trên trẻ em và trong một trường hợp đã ghi hình lại một đứa trẻ quan hệ tình dục với các quan chức cao cấp của chính phủ. Ông và các nhân viên khác của MKULTRA đã tống tiền các quan chức cấp cao để đảm bảo được tài trợ nhiều hơn nữa.

Thí nghiệm khí gas cay trên những người lính.

Khi các nghiên cứu về vũ khí sinh học được tăng cường vào những năm 1940, các quan chức cũng bắt đầu kiểm tra hậu quả và các biện pháp phòng thủ của mình đối với Quân đội. Để kiểm tra tính hiệu quả của các loại vũ khí sinh học khác nhau, các quan chức đã phun rải khí cay và các hóa chất khác làm cháy da, hủy hoại phổi như Lewisite đối với binh lính, mà không có sự đồng ý của họ hoặc kiến thức về cuộc thử nghiệm sẽ xảy ra với họ. Khi tiếp xúc với da, điều này sẽ gây ra đau đớn, ngứa và sưng tương tự những vết bỏng hóa học nghiêm trọng.

Họ cũng kiểm tra hiệu quả của mặt nạ khí và quần áo bảo vệ bằng cách khóa binh sĩ trong buồng khí và để lộ tiếp xúc với khí cay và Lewisite, bắt chước các buồng khí của Đức quốc xã. Cũng có tin đồn rằng cùng với những người lính, bệnh nhân tại các bệnh viện của VA đã được sử dụng như là những con chuột lang để thử nghiệm y học liên quan đến các hóa chất chiến tranh sinh học, nhưng tất cả các thí nghiệm đã được đổi tên để tránh bị nghi ngờ.

Chính phủ Mỹ che dấu những thí nghiệm phẫu thuật dã man trên con người.

Là người đứng đầu đơn vị 731 nổi tiếng của Nhật Bản (một đơn vị nghiên cứu và phát triển vũ trụ sinh học và bí mật của Hoàng gia Nhật trong Thế chiến II), Tiến sĩ Shiro Ishii đã tiến hành thử nghiệm độc ác trên con người với hàng chục ngàn nạn nhân trong Chiến tranh Trung-Nhật và Chiến tranh Thế giới II.

Ishii chịu trách nhiệm thử nghiệm kỹ thuật truyền máu mà không gây tê cho người. Vivisection là hành động thực hiện phẫu thuật thực nghiệm trên sinh vật sống (với thần kinh trung ương) và kiểm tra bên trong chúng cho mục đích khoa học. Vì vậy, về cơ bản, ông ta đã được giải phẫu tù nhân bằng cách mổ tung họ, giữ họ sống, và không sử dụng bất kỳ thuốc gây mê nào.

Trong những thí nghiệm này, ông ta ép phụ nữ mang thai phá thai. Ông cũng liên quan tới những tù nhân thay đổi điều kiện sinh lý và gây đột quỵ, đau tim, sương giá và hạ thân nhiệt. Ishii coi những đối tượng này là “nhật ký”.

Sau sự thất bại xảy ra vào năm 1945, Nhật Bản đã phá hủy tổ hợp đơn vị 731 và Ishii ra lệnh cho tất cả các “nhật ký” còn lại được tiến hành thí nghiệm. Không lâu sau, Ishii đã bị bắt. Sau đó, Tướng Douglas McArthur được cho là đã thỏa thuận với Ishii. Nếu Hoa Kỳ cho phép Ishii được miễn trừ khỏi tội ác của mình, ông ta phải trao đổi tất cả các dữ liệu chiến tranh vi trùng dựa trên thử nghiệm của con người. Vì vậy, Ishii đã không bị bắt với tội ác của mình vì Hoa Kỳ đã trở nên quan tâm đến những kết quả nghiên cứu đó.

Mặc dù không trực tiếp chịu trách nhiệm về những hành động này, nhưng hành động của chính phủ Mỹ đã minh hoạ rõ ràng rằng họ sẵn sàng chấp nhận tra tấn con người vì những tiến bộ trong chiến tranh sinh học có thể giết chết nhiều người hơn.

Thử nghiệm dải chất độc chết người trên các thành phố trong nước Mỹ.

Một lần nữa, Mỹ lại có xu hướng kiểm tra các tình huống xấu nhất bằng thử với họ đầu tiên.  Quân đội, CIA và chính phủ đã tiến hành một loạt các mô phỏng chiến tranh sinh học ở các thành phố ở Mỹ để xem các tác động sẽ diễn ra như thế nào trong trường hợp một cuộc tấn công hóa học thực sự.

Họ tiến hành các cuộc không kích và các cuộc tấn công hải quân:

– CIA đã phát hành một loại virut ho gà trên Vịnh Tampa bằng thuyền, và do đó gây ra bệnh dịch ho gà. 12 người chết.

– Hải quân San Francisco đã phun mầm bệnh vi khuẩn và kết quả là nhiều công dân đã bị viêm phổi.

– Khi Savannah, GA và Avon Park, FL, quân đội đã thả hàng triệu con muỗi với hy vọng sẽ lây lan bệnh sốt vàng da và sốt dengue. Sự bùng phát này khiến người Mỹ phải vật lộn với bệnh sốt, thương hàn, các vấn đề hô hấp, và những đứa trẻ tồi tệ nhất.

Thậm chí tệ hơn là sau gây ra các dịch bênh, quân đội được cải trang thành các nhân viên y tế công cộng. Mục đích bí mật của họ là nghiên cứu và xếp hạng những ảnh hưởng lâu dài của tất cả các bệnh mà công dân đang phải hứng chịu.

Hoa Kỳ gây lây nhiễm bênh Giang mai trên người Guatemala.

Vào những năm 1940, penicillin như là một phương pháp chữa bệnh giang mai được con người tìm ra, Mỹ đã quyết định kiểm tra hiệu quả của nó đối với công dân Guatemala. Để làm điều này, họ đã sử dụng gái mại dâm bị nhiễm bệnh và họ tiếp xúc với những tù nhân trong những nhà tù vô danh, những bệnh nhân bị thần kinh và cả những người lính. Khi cách thức lây lan bệnh qua đường mại dâm không như mong đợi, họ thay thế bằng cách tiêm chủng

Các nhà nghiên cứu cho vi khuẩn giang mai tiếp xúc vào dương vật nam giới, trên cẳng tay và khuôn mặt của họ. Trong một số trường hợp, chúng thậm chí tiêm cả vào cột sống. Sau khi tất cả các nhiễm bênh, các nhà nghiên cứu sau đó đã điều trị hầu hết các đối tượng, mặc dù khoảng 1/3 trong số họ có thể đã được không được điều trị.

Vào ngày 1 tháng 10 năm 2010, Hilary Clinton đã xin lỗi vì những sự kiện này và nghiên cứu mới đã cho thấy nếu có ai bị ảnh hưởng vẫn còn sống và bị bệnh giang mai. Vì nhiều đối tượng không bao giờ có penicillin, nó có thể và có khả năng rằng một người nào đó lây lan nó cho các thế hệ tương lai.

Thử nghiệm tác động của bom nguyên tử trên con người.

Cùng với những thử nghiệm nhằm khai thác sức mạnh của quả bom nguyên tử, các nhà khoa học Mỹ cũng bí mật kiểm tra ảnh hưởng của bom lên con người. Trong dự án Manhattan, nơi đã cho ra đời hai quả bom nguyên tử phá huỷ Hiroshima và Nagasaki, các nhà khoa học Mỹ đã dùng thử plutonium bí mật cho 18 bệnh nhân mà họ hề hay biết.

Điều này bao gồm việc tiêm chích binh lính bằng vi sinh plutoni cho dự án Oak Ridge cùng với việc tiêm ba bệnh nhân tại một bệnh viện ở Chicago. Hãy tưởng tượng bạn là một bệnh nhân trong thí nghiệm, bất lực trong giường bệnh viện, giả định rằng không có gì sai khi chính phủ đột nhiên xuất hiện và đưa plutonium vào máu bạn. Trong số 18 bệnh nhân, họ chỉ được biết đến bằng tên mã và số của họ vào thời điểm đó, chỉ có 5 người sống được qua 20 năm sau khi tiêm.

Cùng với plutoni, các nhà nghiên cứu thử với urani. Tại một bệnh viện ở Massachusetts, giữa năm 1946 và năm 1947, Tiến sĩ William Sweet đã tiêm vào 11 bệnh nhân phóng xạ urani. Ông được tài trợ bởi dự án Manhattan.

Và để đổi lấy urani mà ông nhận được từ chính phủ, ông sẽ giữ các mô chết từ cơ thể của những người mà ông ta giết để phân tích khoa học về ảnh hưởng của việc tiếp xúc với uranium.

Phơi nhiễm chất độc Màu da cam lên những tù nhân.

Dioxin là thứ mà người Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh sinh học ở Việt Nam và những gì mà những người Mỹ, chủ động tiêm vào công dân của họ cho mục đích “thử nghiệm” … với sự giúp đỡ của một công ty Mỹ rất phổ biển

Trong khi ông nhận được tài trợ từ hãng Dow Chemical Company, quân đội Mỹ và Johnson & Johnson, tiến sĩ Albert Kligman đã sử dụng tù nhân như là đối tượng trong nghiên cứu da liễu.

Các khía cạnh da liễu đã được thử nghiệm bằng các sản phẩm ảnh hưởng của chất độc màu Da Cam trên da. Không cần phải nói thêm, việc tiêm chích, hoặc tiếp xúc với dioxidin phơi nhiêm cho bất kỳ ai là một điều vô nhân đạo. Tuy nhiên, Kligman đã tiêm chất dioxidin (một thành phần chính của chất độc vào màu da cam) vào tù nhân để nghiên cứu tác động của nó. Điều đã xảy ra là các tù nhân đã xuất hiện triệu chứng phát ban Clo (nổi mụn đầu đen, nang và mụn cóc giống hình ảnh bên trái) phát triển trên má, sau tai, nách, và háng – vâng, háng.

Kligman đã nói rằng đã lây nhiễm 468 lần. Tài liệu về những hậu quả của không bao giờ được công khai.

Quân đội giám sát trong khi Kligman tiếp tục kiểm tra các chất hoá học làm bỏng da (theo cách gọi của họ) “học cách bảo vệ da chống lại sự tấn công từ các hóa chất độc hại” và thử nghiệm trên nhiều sản phẩm mà hậu quả để lại không rõ tại thời điểm đó nhưng với mục tiêu nghiên cứu trong tương lai.

Trong suốt quá trình nghiên cứu, Kligman đã báo cáo rằng, “Tất cả những gì tôi nhìn thấy trước mắt tôi đều là những mảnh đất cày trên da (trên da xuất hiện những bệnh lí khiên da sần sùi như một mảnh đất được cày xới)… Việc đó như một người nông dân đang nhìn thấy một cánh đồng màu mỡ lần đầu tiên.” Theo cách ví von tương tự như vậy, thật dễ dàng hiểu đươc cách ông ta có thể gây ra những tổn thương trên da thông qua rất nhiều đối tượng là con người mà không có một ounce cảm thông nào.

Chiến dịch “Cái kẹp giấy”.

Sau Thế chiến II, Chính phủ Hoa Kỳ đã thiết lập Chiến dịch Paperclip, một chương trình của Văn phòng Dịch vụ Chiến lược (OSS) trong đó có hơn 1.500 nhà khoa học, kỹ thuật viên và kỹ sư người Đức đến từ Đức quốc xã và các nước khác đã được đưa tới Hoa Kỳ để làm việc.

Họ đã làm điều này một phần để giữ và phát triển kiến ​​thức khoa học của Đức cho riêng mình khỏi sự nhòm ngó của Liên bang Xô viết và Vương quốc Anh tiếp tục khả năng nghiên cứu quân sự của Đức sau chiến tranh. Chính phủ Hoa Kỳ đã “tẩy trắng” các thông tin liên quan tới Đức quốc xã của các nhà khoa học, xóa bỏ hoặc tiêu hủy bất kỳ tài liệu hoặc hồ sơ nào liên quan.

Các đợt di tản này làm liên quan tới Chính phủ Hoa Kỳ, khoảng 1.800 kỹ thuật viên và các nhà khoa học, cùng với 3.700 thành viên trong gia đình họ. Những người có kỹ năng đặc biệt hoặc kiến ​​thức chuyên môn đã được đưa đến các trung tâm giam giữ và thẩm vấn, đôi khi trong nhiều tháng. Một số sau đó được di chuyển đến các ngôi làng không có cơ sở nghiên để cứu làm việc và buộc phải báo cáo hàng tuần hai lần đến trụ sở cảnh sát để đảm bảo họ không rời khỏi đó. Chỉ thị của Bộ Chỉ Huy cho rằng các nhà khoa học sẽ được tự do “sau khi tất cả các cơ quan quan tâm đều hài lòng rằng tất cả các thông tin tình báo mong muốn đã có được từ họ.”

Truyền nhiễm bệnh ung thư vào đất nước Puerto Rico.

Năm 1931, Tiến sĩ Cornelius Rhoads được tài trợ bởi Viện Rockefeller để tiến hành các thí nghiệm ở Puerto Rico. Ông đã lây nhiễm cho những người Puerto Rico các tế bào ung thư nhằm nghiên cứu các tác động của chúng. Mười ba trong số họ đã chết. Điều gây ấn tượng nhất là những cáo buộc bắt nguồn từ một ghi chép mà ông cho là đã viết:

“Porto Ricans (sic) là những chủng tộc bẩn thỉu, lười biếng, thoái hóa và trộm cắp nhất mà loài người từng sống trong thế giới này … Tôi đã làm hết sức mình để vượt tiến trình thanh lọc bằng cách giết chết tám người và cấy ghép ung thư vào nhiều người hơn nữa … Tất cả các bác sĩ thích thú trong việc lạm dụng và tra tấn những đối tượng không may này. ”

Một người đàn ông có vẻ như ghê tởm khi giết chết người dân Puerto Rico thông qua một cuộc truyền nhiễm căn bệnh ung thư dường như không phải là ứng cử viên phù hợp để được bầu bởi Hoa Kỳ làm phụ trách các dự án chiến tranh hóa học và nhận được một ghế trong Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Hoa Kỳ?

Nhưng đó là chính xác những gì đã xảy ra. Ông cũng trở thành phó chủ tịch Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ. Bất kỳ tài liệu gây sốc nào có thể xảy ra trong thời kỳ chiến tranh hóa học của ông có lẽ đã bị tiêu hủy hết.

Thử nghiệm chiếu xạ cường độ cao trên những bệnh nhân ung thư người Mỹ gốc Phi.

Trong những năm 60, Bộ Quốc phòng đã thực hiện một loạt các thí nghiệm chiếu xạ đối với những bệnh nhân ung thư mà chưa được sự đồng ý của họ và cả người Mỹ gốc Phi. Họ được nói rằng họ sẽ được điều trị, nhưng họ không biết phương thức điều trị là theo cách của lầu Năm góc: có nghĩa là nghiên cứu ảnh hưởng của bức xạ cao lên cơ thể con người. Để tránh những vấn đề kiện cáo sau này, các mẫu đơn chỉ được ký bằng chữ cái để bệnh nhân không có cách nào kiện Chính phủ

Trong một trường hợp tương tự, Tiến sĩ Eugene Saenger, do Cơ quan Hỗ trợ Nguyên tử Quốc phòng, thực hiện cùng một quá trình tương tự trên cùng một loại bệnh nhân. Người Mỹ gốc Phi sẽ được chiếu cùng mức độ bức xạ 7500 tia X vào ngực, gây ra những cơn đau, nôn mửa và chảy máu mũi và tai. Ít nhất 20 trong số các đối tượng thí nghiệm đã chết.

Chiến dịch “Cực khoái lúc nửa đêm”.

Đây là một thử nghiệm của chính phủ mà khi bạn Google các kết quả hình ảnh hiện ra hoàn toàn khác so với kết quả trên web. Chiến dịch Midnight Climax liên quan đến những ngôi nhà thổ ở New York và San Francisco, được xây dựng với mục đích duy nhất để nghiên cứu hiệu ứng LSD (Lysergic acid diethylamide một loại chất gây ảo giác) đối với những cá nhân khi chưa được họ cho phép.

Nhưng để thu hút các cá nhân ở đó, CIA đã cho xây dựng những ngôi nhà thổ. Những cô gái mại dâm được trả lương theo bảng lương CIA (điều đó đã thực sự xảy ra) để thu hút những người đàn ông tới. Thay vì quan hệ tình dục với họ, họ đã bị tiêm vào người một số chất, nổi tiếng nhất là LSD. Điều này cũng liên quan đến việc sử dụng rộng rãi cần sa.

Các thí nghiệm được theo dõi sau một tấm kính phản chiếu từ phòng bên, giống như một trò bệnh hoạn.

Thử nghiệm bức xạ hạt nhân trên vùng lãnh thổ Thái Bình Dương.

Sau khi gây ra hai vụ thả bom hạt nhân tại Hiroshima và Nagasaki, Hoa Kỳ đã tiến hành nhiều cuộc thử bom nhiệt hạch ở Thái Bình Dương đối đầu với Liên Xô trong cuộc chiến tranh Lạnh. Họ đã dự định đây sẽ là một bí thông tin bí mật nhưng họ đã không thể làm được điều đó.

Được phát hiện vào năm 1954 qua đảo san hô Bikini ở Quần đảo Marshall, Castle Bravo là thiết bị hạt nhân mạnh nhất mà Mỹ đã từng thiết lập. Những gì mà họ không mong đợi đó là sức công phá của của quả bom đã thổi bay toàn bộ cư dân gần đó và những hòn đào xung quanh. Những di chứng nặng nề bao gồm dị tật bẩm sinh và bệnh tật do phóng xạ. Những ảnh hưởng này đã được ghi nhận nhiều hơn trong những năm sau đó khi nhiều đứa trẻ sinh ra mắc bênh ung thư tuyến giáp và ung thư phổi do cha mẹ phơi nhiễm với phóng xạ.

Điều này tạo ra Dự án 4.1, một nghiên cứu để kiểm tra tác động của phóng xạ bức xạ trên con người. Về cơ bản, đây là một trong những nghiên cứu mới nhất trong đó con người hoạt động như là chuột bạch mà không được họ cho phép. Tiêu chuẩn đạo đức của Hoa Kỳ mà lịch sử nhớ tới là sự cố phóng xạ đối với quần đảo Marshall là một tai nạn, nhưng nó cũng có thể là một được kế hoạch đã được lên sẵn.

Ngoài ra, theo một sự trùng hợp nào đó, một chiếc thuyền đánh cá của Nhật Bản đã bị mắc kẹt trong vụ thả bom. Tất cả ngư trên thuyền đều bị phơi nhiễm, thậm chí có một người đã chết. Người Nhật đã chỉ trích rằng Hoa Kỳ vẫn đang tác động đến họ bằng các thiết bị hạt nhân khác.

Thí Nghiệm bệnh Giang mai ở Tuskegee.

Từ năm 1932 đến năm 1972, các nhà nghiên cứu đã tuyển dụng 400 nông dân ở Tuskegee, Alabama để nghiên cứu sự tiến triển tự nhiên của bệnh giang mai. Nhưng các nhà khoa học không bao giờ nói với những người đàn ông rằng họ bị lây nhiễm bệnh giang mai. Thay vào đó, họ đã đi khắp nơi và tin rằng họ đang được điều trị bệnh “máu xấu” trong thực tế các nhà nghiên cứu sử dụng chúng để tìm ra mức độ, triệu chứng và hiệu ứng giang mai.

Năm 1947, penicillin trở thành phương pháp chữa bệnh chuẩn cho giang mai. Nhưng cùng với việc giữ giấu kín những thông tin về căn bệnh, các nhà khoa học cũng “quên” luôn việc nói với các đối tượng nghiên cứu của họ rằng những gì họ đang làm. Và vì vậy nghiên cứu tiếp tục gần 30 năm nữa.

Khi nó được phát hiện, phản ứng của người dân dữ dội đến mức Tổng thống Bill Clinton đã xin lỗi chính thức, nói rằng ông rất tiếc vì chính phủ đã “tổ chức một cuộc nghiên cứu có tính phân biệt chủng tộc” như vậy. Đáng buồn thay, mặc dù những gì họ gây ra thật kinh khủng, nhưng ít nhất chúng còn nhân đạo hơn các thí nghiệm tàn ác nhất trên con người mà Chính phủ Hoa Kỳ từng thực hiện.

@hosotuyetmatx